Trang Nhà Lịch Trình Tu Học Lá Thư Tu Học Hình ảnh sinh hoạt Đóng góp Trang bạn Các nhà xuất bản

Lá thư tu học tháng 4 năm 2006
Tăng thân Thuyền Từ vùng Hoa Thịnh Đốn
10413 Adel Road, Oakton, VA 22124

Ngày quán niệm đầu tháng 4 năm 2006

Ngày quán niệm đầu tháng 4 năm 2006 sẽ được tổ chức vào thứ Bẩy 1 tháng 4 từ 10 giờ sáng đến 5 giờ chiều tại Unitarian Universalist Congregation of Fairfax (UUCF), 2709 Hunter Mill Road, Oakton, VA 22124. Quý vị có thể vào trang nhà tại http://mpcf.org để xem bản đồ và đường đi tới UUCF. Chương trình tu học trong ngày:

10:00 Tọa thiền, kinh hành, tụng kinh
12:00 Ăn trưa trong im lặng hùng tráng và nghỉ trưa
2:00-2:45 Nghe băng hình pháp thoại của thầy Nhất Hạnh
3:00-4:30 Thiền trà, trao đổi kinh nghiệm tu học
4:30-5:00 Tọa thiền, chia tay

Kính xin quý thiền sinh đem theo thức ăn chay để ăn trưa chung và mặc y phục thoải mái để ngồi thiền.




Khóa Tu Tập Chánh Niệm Mùa Xuân 2006

Tuần lễ cuối tuần lễ Phục Sinh từ tối thứ Năm ngày 13 tháng 4 năm 2006 tới chiều Chủ nhật ngày 16 tháng 4 là khóa tu tập chánh niệm 4 ngày do tăng thân Thuyền Từ tổ chức tại trung tâm Claymont Court, West Virginia. Một buổi lễ Tắm Bụt theo truyền thống chùa Làng Mai sẽ được tổ chức trong khóa tu này. Lệ phí cho khóa tu là $145. Trẻ em dưới 12 tuổi chỉ phải trả nửa giá. Xin liên lạc với chị Chân Minh Giới tại số (301) 294-7966 để ghi danh và biết thêm chi tiết. Chương trình tạm thời của khóa tu:

Tối thứ Năm 13 tháng 4 năm 2006:
21:00 Họp mặt và hướng dẫn tổng quát
21:45 Ngồi thiền
22:00 Đi ngủ

Thứ Sáu 14 tháng 4 năm 2006:
6:00 Thức dậy
6:30 Ngồi thiền và tụng kinh
8:00 Ăn sáng
9:00 Thiền hành ngoài trời
10:30 Pháp thoại
12:00 Ăn trưa - Nghỉ trưa
13:15 Buông thư toàn thân/ Khí công
15:15 Thiền trà
17:00 Xếp đặt bàn thờ Bụt sơ sinh
18:00 Ăn tối
19:15 Văn nghệ, pháp đàm
21:00 Ngồi thiền và tụng kinh
22:00 Đi ngủ

Thứ Bảy 15 tháng 4 năm 2006:
6:00 Thức dậy
6:30 Ngồi thiền và tụng kinh
8:00 Ăn sáng
9:30 Lễ Tắm Bụt
12:30 Ăn trưa - Nghỉ trưa
14:00 Thiền hành ngoài trời
15:00 Pháp thoại
16:30 Buông thư toàn thân/ Khí công
18:00 Ăn tối
19:15 Văn nghệ, pháp đàm
21:00 Ngồi thiền và tụng kinh
22:00 Đi ngủ

Chủ Nhật 16 tháng 4 năm 2006:
6:00 Thức dậy
6:30 Lễ tụng Năm Giới
8:00 Ăn sáng
9:00 Thiền hành ngoài trời
10:30 Thiếu nhi ôn tụng Ba Sự Quay Về và Hai Lời Hứa
10:45 Pháp thoại, vấn đáp
12:00 Ăn trưa
13:00 Tổng kết
15:00 Chia tay

Những vật dụng cần đem theo:
  1. Khăn mặt, xà phòng, kem và bàn chải đánh răng.
  2. Giày ủng hay giày thể thao, áo chắn gió, áo ấm, găng tay, nón len.
  3. Đèn pin.
  4. Bài hát và nhạc khí (đàn, sáo, v.v…)
  5. Y phục thoải mái để ngồi thiền.
  6. Quần áo đẹp để dự các buổi lễ và thiền trà. Các em gái, các chị và các cô xin nhớ mang theo áo dài.



Tin ngắn:




Tuổi Trẻ, Tình Yêu, Lý Tưởng -
Nói Với Tuổi Hai Mươi Việt Nam Trong Thập Niên Đầu Của Thế Kỷ

viết bởi thầy Nhất Hạnh, Lá Bối xuất bản năm 2005. (tiếp theo)

Hiến tặng cho nhau những gì tốt đẹp nhất

Chúng tôi không nghĩ rằng nếp sống văn hóa Việt Nam là nếp sống đẹp nhất, hay nhất mà các dân tộc khác đều phải bắt chước theo. Không! Chúng tôi biết là chúng tôi có thể học được rất nhiều cái hay cái đẹp từ các truyền thống văn hóa khác, và chúng tôi tin rằng cộng đồng nhân loại phải duy trì được tính đa dạng của nền văn hóa thế giới. Tuy nhiên chúng tôi cũng muốn đem cái hay cái đẹp của nền văn hóa Việt Nam ra để chia sẻ và cống hiến cho các bạn khắp nơi. Tại Làng Mai, nơi chúng tôi chung sống với nhau, chúng tôi chia sẻ sự thực tập sống hạnh phúc thảnh thơi trong giây phút hiện tại với mọi người, chúng tôi giúp mọi người thấy được tính tương quan tương duyên của mọi hiện tượng, và chúng tôi cũng giúp mọi người thấy được là ai trong chúng ta cũng có tổ tiên tâm linh và huyết thống, và tổ tiên chúng ta luôn luôn đang có mặt một cách hiện thực trong từng tế bào cơ thể của chúng ta, dù đó là tổ tiên huyết thống hay tổ tiên tâm linh. Con người một khi không tiếp xúc được với gốc rễ của mình thì không còn có thể sống có hạnh phúc. Vì vậy, nếp sống thờ phụng tổ tiên, ý thức rằng mình là sự tiếp nối của tổ tiên, rằng con cháu ở đâu thì tổ tiên ở đó, là một nếp sống truyền thống rất đẹp rất lành của văn hóa Việt Nam mà chúng tôi đã chia sẻ với rất nhiều người bạn tới từ những phương trời văn hóa khác nhau. Chiều hướng toàn cầu hóa sẽ có thể làm cho mất đi tính đa dạng của các nền văn hóa thế giới, vì vậy trong giấc mơ Việt Nam, chúng tôi quyết tâm gìn giữ bảo hộ những nền văn hóa địa phương. Có những người trong chúng tôi có cảm tưởng rằng toàn cầu hóa nghĩa là Mỹ hóa, và điều này thật là một sự đe dọa cho nền văn hóa đa dạng của nhân loại.

Khả năng chuyển hóa và biến dưỡng

Văn hóa Việt có những điểm đặc sắc giúp cho người Việt tiếp thu được những tinh hoa của các nền văn hóa khác mà vẫn không đánh mất bản sắc riêng của mình. Chúng ta từ một ngàn năm trước tây lịch đã được tiếp xúc với văn hóa Ấn Độ, sau đó được tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa, và trong những thế kỷ gần đây lại được tiếp xúc với nền văn hóa Tây phương. Vì chúng ta đã có bản sắc riêng cho nên chúng ta đã không bị đồng hóa bởi một nền văn hóa nào, trái lại chúng ta đã làm giàu được cho nền văn hóa chúng ta bằng cách chuyển hóa (bio-transform) và biến dưỡng (metabolize) được những cái hay cái đẹp của các nền văn hóa đó. Biến dưỡng mà không phải là đồng hóa. Có được những bản sắc riêng, văn hóa ta có thể hàng xử như một cơ thể (organism) và như vậy mới có khả năng biến dưỡng như thế.

Một nét rất đặc biệt trong ngôn ngữ ta là tiếng Việt không có từ jetu của Pháp hoặc Iyou của Anh hoặc woni của Hoa. Đại danh từ tôi mà chúng ta sử dụng thực ra chỉ có nghĩa là người phụng sự (votre serviteur, your servant), và đại danh từ ông chỉ có nghĩa là tôn xưng người kia lên hàng trưởng thượng (ông là bố của cha). Người Việt trước khi nói chuyện với nhau phải thiết lập một liên hệ gia tộc mới có thể nói chuyện được. Ta chỉ có thể gọi người kia là mẹ, là cha, là anh, là chị, là cô bác, là ông bà, là em hay cháu, chứ không thể gọi họ là you hay là tu được. Và ta cũng phải hoặc là cháu, là em, là con, là chú hay là bác chứ không thể là je hay I.

Nhiều làng xóm của ta đã được thiết lập bởi những gia đình lớn, và khi lên xóm Thượng hay qua xóm Đoài, gặp ai, ta cũng thấy là người cùng một gia tộc. Ai cũng là bác cả, anh hai, chị ba hay là chú tư của ta. Không ai là người dưng nước lã. Và đình làng là nơi tụ họp của đại gia đình, vị thần hoàng là người được tôn kính như một người cha có khả năng hướng dẫn và bảo hộ cho tất cả dân chúng trong làng và vì vậy lễ tế thần mỗi năm là một cơ hội để mọi người nhận diện nhau như thành phần trong một gia đình lớn. Ngoài đình làng ta còn có nhà thờ họ và chùa cũng là những nơi mà ta đến với nhau để nhận diện nhau như những người cùng có một gốc gác huyết thống hay tâm linh. Ai cũng thấy rằng mình là sự tiếp nối của tổ tiên , tổ tiên có mặt trong mình, mình có mặt trong tổ tiên và mình có mặt trong những thành phần khác trong cộng đồng cũng như mọi thành phần khác của cộng đồng đều có mặt trong mình. Vì vậy cho nên không thể có việc nồi da xáo thịt, củi đậu nấu đậu, mà chỉ có chuyện chị ngã em nâng, lá lành đùm lá rách, và giấy rách phải giữ lấy lề. Chính tuệ giác ấy và tinh thần ấy giúp ta tiếp thu và biến dưỡng được những yếu tố văn hóa khác trên thế giới. Chính tuệ giác ấy và nếp sống ấy đã tạo thành bản sắc của nề văn hóa Việt, chính những cái ấy giữ cho chúng ta còn là chúng ta, và chính những cái ấy là những gì mà ta có thể chia sẻ cho những người anh em thuộc các nền văn hóa khác.

Tương tức và liên lập

Giấc mơ Việt Nam là nếu trong gia tộc và trong cộng đồng ta biết đi tìm hạnh phúc chung mà không nghĩ rằng hạnh phúc là một cái gì riêng tư của một người, thì trên bình diện quốc tế ta cũng nghĩ và cũng làm được như vậy. Sự giàu thịnh của một quốc gia không thể nào được xây dựng trên sự nghèo khổ của những quốc gia khác. Giấc mơ Việt Nam của chúng ta không phải là một giấc mơ của riêng người Việt, mà là một giấc mơ cho cả hành tinh, tại vì ta biết rằng hạnh phúc và an ninh của ta và của người liên hệ mật thiết với nhau, tương lai là tương lai chung, hạnh phúc là hạnh phúc chung và an ninh cũng là an ninh chung, nên mọi người trong chúng ta đều tập nhìn bằng cái nhìn đại đồng mà không chỉ biết lo cho cái ngã của bản thân mình, của quốc gia mình, theo cái kiểu ‘ai chết mặc ai, tiền thầy bỏ túi.' Chúng ta tập thương yêu theo tinh thần không kỳ thị, ta yêu ta mà ta cũng yêu được người, ta yêu nước ta mà ta cũng yêu được nước người, ta không còn kỳ thị và mặc cảm, tự cho mình là hơn người, thua người hay bằng người, tại vì ta đã thấy được rằng ta và người là bất nhị. Có cái nhìn vô phân biệt ấy rồi thì tình nhân loại, tình huynh đệ mới thật sự có mặt. Và câu người bốn biển là anh em (tứ hải giai huynh đệ) không còn là một ước mơ nữa. Vì vậy ta không đi theo hướng tranh đua để dành quyền lợi, giàu sang và thế lực cho chỉ một mình ta mà ta muốn cùng các quốc gia khác nắm tay đi lên trong tình huynh đệ, để có thể nhận thấy rằng hòa bình, an ninh và thịnh vượng của các nước khác cũng là hòa bình, an ninh và thịnh vượng của chính nước ta, và như vậy là ta nhắm tới hướng liên đới (trong đạo Bụt gọi là tương tức hay tương quan tương duyên) mà đi. Khi các quốc gia cùng thấy được như thế thì không còn ai muốn lấn đất của ai, cướp giật chủ quyền của ai hoặc xâm chiếm lãnh thổ của ai. Chúng ta sẽ không còn tự bảo hộ bằng vũ khí, quân sự và quyền lực của mình mà bằng tinh thần liên đới và tình huynh đệ. Chúng ta không ai muốn làm bá chủ. Chúng ta chỉ muốn làm ‘những nước anh em’ của nhau. Ta không bế môn tỏa cảng, ta không tự giam mình trong hải đảo cô đơn, ta mở cửa ra cho nhau để ai cũng có cơ hội thấy mình là một thành phần của cộng đồng thế giới. Đây đích thực là đại đồng, và đại đồng ở đây không phải là toàn cầu hóa, vì ở đây mỗi vùng văn hóa còn giữ được bản sắc riêng biệt của mình. Hiện có những nước rất giàu mạnh, vũ khí hàng đầu, quân lực đông đảo, ngân sách quốc phòng của họ vượt quá ngân sách giáo dục và xã hội, nhưng dân chúng đang sống trong phập phồng lo sợ về khủng bố, bởi vì chính sách của những nước này căn cứ trên ý niệm tự phụ, tự hào, nghĩ rằng mình không cần đến ai, mình chỉ biết lo cho cái lợi của chính mình, mình tự cho mình là khuôn mẫu của tự do, của văn minh, của dân chủ cho các nước khác và không chấp nhận được rằng mình đang cần tới những nước khác để thực sự có phát triển, tự do và an ninh. Giấc mơ của ta không đi về hướng ấy. Hướng ấy là hướng của chia cách, chiến tranh và hận thù. Ta không nên đi về hướng ấy, như nhà thơ Hoàng Cầm đã nói: “Ta ru em, lớn lên em đừng đi tìm mẹ phía cơm mưa.” (Trích trong Hoàng Cầm - Về Kinh Bắc).

(Còn tiếp)


Trang Nhà Lịch Trình Tu Học Lá Thư Tu Học Hình ảnh sinh hoạt Đóng góp Trang bạn Các nhà xuất bản



Mọi ý kiến và đóng góp xin điện thư về webmaster@crpcv.org
Trình bày và thực hiện bởi tăng thân Thuyền Từ vùng Washington DC